Nguồn cung cấp nước tưới đáng tin cậy là một thành phần thiết yếu để trồng cây trong nhà kính vì cây cần nước để sinh trưởng và phát triển. Các đặc tính của nước tưới xác định chất lượng của nó thay đổi theo nguồn nước. 

Có sự khác biệt giữa các vùng về đặc tính nước, chủ yếu dựa trên địa chất và khí hậu. Cũng có thể có sự khác biệt lớn về chất lượng nước có sẵn ở địa phương tùy thuộc vào nguồn nước từ trên mặt đất (sông, ao hay hồ) hay từ các tầng chứa nước ngầm với địa chất khác nhau và liệu nước đã được xử lý hóa học như trong trường hợp nước đô thị. 

Chất lượng nước rất quan trọng đối với cây trồng trong chậu hay túi bầu vì chúng sống trong một lượng nhỏ chất nền. Nhiều chất nền không có đất thiếu khả năng đệm của đất, và do đó nguồn cung cấp nước kiềm có tác động mạnh mẽ đến sự sẵn có của các chất dinh dưỡng trong chất nền hữu cơ trong bầu. 

Chất lượng nước kém có thể dẫn đến lượng muối quá cao và độ pH cực đoan trong chất nền và các vấn đề về dinh dưỡng. Những vấn đề này quan trọng hơn rất nhiều khi trồng chồi và cành giâm, bởi vì cây non đặc biệt nhạy cảm với chất lượng nước. Hơn nữa, nồng độ cao của trầm tích, sắt và bicacbonat làm tắc lỗ vòi phun thể tích thấp. Do đó, người nông dân  nên thường xuyên theo dõi nguồn nước tưới về độ dẫn điện (EC), độ pH và hàm lượng chất dinh dưỡng. 

Các yếu tố chất lượng nước nằm ngoài phạm vi cho phép không nhất thiết có nghĩa là nguồn nước đó không thể sử dụng được. Có một số lựa chọn xử lý nước có sẵn cho các hoạt động nhà kính có thể khắc phục nhiều vấn đề về chất lượng nước. Xử lý nước cần kết hợp các phương pháp xử lý vật lý, hóa học và vi sinh vật. Không có hệ thống xử lý đơn lẻ nào là tốt nhất cho tất cả các nhà kính. Các nguồn chính cho nước tưới là nước ngầm từ giếng, nước mặt, nước ao, nước mưa và nước đô thị.

Tưới nước trong nhà kính
Tưới nước trong nhà kính

Chất lượng nước cho cây trồng trong nhà kính

Chất lượng nước tưới là một yếu tố quan trọng để sản xuất cây trồng trong nhà kính. Có nhiều yếu tố quyết định chất lượng nước. Trong số những điều quan trọng nhất là độ kiềm, độ pH và muối hòa tan. Nhưng có một số yếu tố khác cần xem xét, chẳng hạn như liệu các muối cứng trong nước như canxi và magiê hoặc các kim loại nặng có thể làm tắc nghẽn hệ thống tưới tiêu hoặc có các ion độc hại riêng lẻ hay không. Nước kém chất lượng có thể là nguyên nhân khiến cây trồng chậm phát triển, kém thẩm mỹ và trong một số trường hợp có thể dẫn đến cây chết dần. 

Muối hòa tan cao có thể làm tổn thương trực tiếp rễ, cản trở sự hấp thu nước và chất dinh dưỡng. Muối có thể tích tụ ở rìa lá cây, gây cháy mép. Nước có độ kiềm cao có thể ảnh hưởng xấu đến độ pH của chất trồng, can thiệp vào sự hấp thu chất dinh dưỡng và gây ra sự thiếu hụt chất dinh dưỡng làm giảm sức khỏe của cây trồng. Điều này đặc biệt xảy ra với nhiều hệ thống sản xuất nhà kính không sử dụng đất thiếu khả năng đệm của đất, và do đó nguồn cung cấp nước có thể có tác động mạnh mẽ đến sự sẵn có của chất dinh dưỡng trong môi trường trồng trọt.

 Hơn nữa, nồng độ cao của trầm tích, sắt và bicacbonat làm tắc lỗ vòi phun thể tích thấp. Do đó, người nông dân nên kiểm tra nước tưới trước khi bắt đầu vụ mùa và có thể ngay cả trong quá trình sản xuất vụ mùa, tùy thuộc vào chu kỳ mùa vụ và những biến động dự kiến ​​của nguồn nước (ví dụ: giếng, sông, ao hoặc hệ thống đô thị). Nguồn cung cấp nước mặt và giếng cạn đặc biệt dễ bị ô nhiễm. Các tiêu chuẩn phải cao hơn đối với các hệ thống tưới khép kín vì các ion như natri, clorua và sunfat có thể tích tụ trong dung dịch tác động tiêu cực đến sự phát triển của cây.

Thông số chất lượng nước

Các thông số mục tiêu chất lượng nước bao gồm các đặc tính vật lý, hóa học và vi sinh vật. 

Tính chất vật lý bao gồm các chất rắn lơ lửng như các hạt đất. Các chất rắn lơ lửng như các hạt đất là những vấn đề tiềm ẩn vì các hạt này có thể làm tắc các vòi tưới và gây mài mòn thiết bị tưới. 

Các tính chất hóa học thường được chú trọng nhất khi xử lý nước tưới. Các thông số chất lượng nước quan trọng nhất về mặt hóa học là muối hòa tan, độ cứng, nồng độ natri và clorua và độ pH. Trong một số trường hợp, các nguyên tố như sắt, bo và florua cũng được coi là các thông số quan trọng.

Kiểm tra thông số nước tưới
Kiểm tra thông số nước tưới

Tính dẫn điện

Độ dẫn điện (EC, còn được gọi là độ dẫn điện hoặc muối hòa tan) là một thuật ngữ được sử dụng để đo tổng nồng độ muối trong nước tưới. Muối là sự kết hợp của các nguyên tố tích điện dương (cation) và các nguyên tố tích điện âm (anion). Các cation phổ biến nhất được quan tâm trong nước là canxi (Ca+2), magie (Mg+2) và natri (Na+); các anion phổ biến nhất là bicacbonat (HCO3-), clorua (Cl-) và sunfat (SO4-). Phân bón, thuốc diệt nấm và phân hủy các thành phần chất nền hữu cơ cũng có thể góp phần tạo thêm muối.

Đơn vị đo độ dẫn điện

Hiện tại, các đơn vị được sử dụng để đo độ dẫn điện (ECw) là millisiemens/cm (mS/cm), microsiemens/cm (μS/cm) hoặc decisiemens/m (dS/m), trong đó S là viết tắt của Siemens. Chuyển đổi cho tất cả các đơn vị này là 1000 μmhos = 1000 μS/cm=1 mmhos = 1 mS/cm = 1 dS/m. Các đơn vị khác để biểu thị ECw của nước tưới bao gồm millimhos trên centimet (mmhos/cm), micromhos trên centimet (μmhos/cm) và mili đương lượng trên lít (meq/L).

Độ mặn ảnh hưởng đến thực vật

Nước tưới có hàm lượng muối hòa tan cao sẽ chuyển muối sang chất trồng trong chậu và có thể tích tụ theo thời gian. Các loại cây trồng khác nhau về khả năng chịu mặn và một số có thể bị ảnh hưởng bất lợi ở EC thấp hơn 4 dS/m. Dấu hiệu đầu tiên của nhiễm mặn thường là sinh trưởng còi cọc, lá cây thường có màu xanh lục.

Hiệu ứng Độ mặn. Vấn đề nghiêm trọng nhất do độ mặn của nước gây ra là khả năng thẩm thấu của nước trong đất giảm. Thực vật hấp thụ nước từ đất thông qua rễ của chúng. Một quá trình quan trọng cho phép rễ thực hiện điều này là thẩm thấu.

Tác dụng độc tính. Nồng độ quá cao của các ion natri và clorua trong nước tưới có thể gây ra các ion có thể tích tụ trong mô gỗ và cuối cùng là trong. Những ion này có thể được hấp thụ bởi rễ hoặc do tiếp xúc trực tiếp trên lá. Thiệt hại nhiều hơn là do sự hấp thụ trực tiếp qua lá.

Máy đo EC

Máy đo EC đo nồng độ của tất cả các muối hòa tan được hòa tan trong dung dịch nhưng không xác định được muối nào có mặt ở nồng độ cụ thể. Do tác động của nhiệt độ, hầu hết các máy đo EC thương mại tự động bù đầu ra của chúng để tính đến sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mẫu. Một số mét sẽ xuất TDS. Thực hiện phép đo EC chỉ đơn giản là chức năng nhúng hai điện cực vào mẫu, đặt điện áp và đo phản hồi. Điều này sau đó được chuyển đổi thành độ dẫn điện. Tất cả các máy đo EC có thể thực hiện các phép đo trong nước hoặc bùn nền.

Độ pH

Độ pH của nước là thước đo nồng độ tương đối của các ion hydro (H-) với các ion hydroxit (OH¯). Số lượng H càng lớn, các ion liên quan đến OH¯ thì dung dịch càng có tính axit. Tỷ lệ ion OH¯ so với H+ càng lớn thì dung dịch càng có tính bazơ. Độ pH có thể thay đổi trên thang điểm từ 0 đến 14 với độ pH bằng 7 là trung tính, dưới 7 được coi là axit và trên 7 được gọi là bazơ hoặc kiềm.

 Ảnh hưởng chính của độ pH của nước đối với sự phát triển của cây trồng là thông qua việc kiểm soát lượng dinh dưỡng sẵn có, đặc biệt là các chất dinh dưỡng vi lượng. Độ pH thấp có thể là nguyên nhân dẫn đến lượng sắt và mangan dư thừa dẫn đến độc tính, hoặc thiếu hụt canxi và magiê. Độ pH cao có thể khiến sắt và mangan và các chất dinh dưỡng nhỏ khác không có sẵn cho cây trồng, dẫn đến sự thiếu hụt.

Tầm quan trọng của độ pH

Độ pH của nước tưới nói chung không phải là phép đo quan trọng như độ pH của chất nền. Phạm vi khuyến nghị của độ pH của nước tưới và độ pH của dung dịch môi trường để sản xuất thùng chứa phụ thuộc vào loại cây trồng được trồng. Phạm vi pH thường được chấp nhận là 5,2 đến 6,8 đối với nước tưới và 5,2 đến 6,3 đối với dung dịch chất nền. Mặc dù các ion hydro không được coi là một trong những nguyên tố dinh dưỡng, nhưng độ pH ảnh hưởng đến khả năng hòa tan và do đó ảnh hưởng đến sự sẵn có của nhiều chất dinh dưỡng khác (đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng).

Máy đo pH

Máy đo pH loại điện cực, chính xác nhất để đo pH, cũng là loại đắt nhất và cần bảo trì nhiều nhất. Đặt đầu dò pH trực tiếp vào dung dịch cho đến khi giá trị đọc ổn định sẽ cho kết quả đọc nhanh. Nhiều máy đo pH tốt hơn có bù nhiệt độ, nhưng sự phụ thuộc nhiệt độ là nhỏ (thường trong khoảng 0,1 đến 0,3 đơn vị) trong phạm vi nhiệt độ của nước tưới mà hầu hết người trồng trọt sử dụng.

Thiết bị đô độ pH
Thiết bị đô độ pH

Độ kiềm

Độ kiềm là nồng độ của các hợp chất hòa tan trong nước có khả năng trung hòa axit. Các hóa chất chính gây ra độ kiềm trong nước là các ion bicacbonat (HCO3-) từ các muối hòa tan như canxi bicacbonat (Ca(HCO3)2), natri bicacbonat (NaHCO3) và magie bicacbonat (Mg(HCO3)2); và ở mức độ thấp hơn cacbonat (CO32-) từ các muối hòa tan như canxi cacbonat (CaCO3) và magie cacbonat (MgCO3). Các ion hydroxit (OH-) là thành phần đóng góp nhỏ trong hầu hết các trường hợp.

Tại sao độ kiềm của nước lại quan trọng?

Tại sao độ kiềm của nước tưới trong nhà kính lại quan trọng đối với người trồng trọt? Bởi vì độ kiềm của nước tưới ảnh hưởng đến độ pH của môi trường trồng trọt theo thời gian, do đó ảnh hưởng đến sự sẵn có của các chất dinh dưỡng. Khi độ kiềm cao, độ pH của chất trồng sẽ tăng lên nhanh chóng khi nước được tưới qua các đường tưới trên hoặc qua các đường tưới phụ mà không có khả năng bị rửa trôi.

Độ kiềm so với pH

Nói một cách đơn giản, độ pH đo lượng ion hydro hòa tan trong nước; trong khi độ kiềm đo lượng kiềm hòa tan (bicacbonat/cacbonat của canxi, magie hoặc natri) trong nước. Do đó, theo định nghĩa, độ pH đo lường một thứ, trong khi độ kiềm đo lường một thứ khác.

Đơn vị đo độ kiềm

Các đơn vị định lượng độ kiềm là một nguồn gây nhầm lẫn khác cho người trồng trọt. Độ kiềm được báo cáo là miligam trên lít (hoặc phần triệu, ppm) đương lượng canxi cacbonat (mg/L CaCO3) hoặc mili đương lượng trên lít đương lượng canxi cacbonat (meq/L CaCO3). Một meq/L CaCO3 = 50 mg/l CaCO3 (Lưu ý: 1 mg/L = 1 ppm). Thuật ngữ meq/L là một thuật ngữ hóa học không chỉ phụ thuộc vào nồng độ vật liệu mà còn phụ thuộc vào trọng lượng phân tử và điện tích của nó. Vì bicacbonat và cacbonat là thành phần chính tạo nên độ kiềm của nước nên một số phòng thí nghiệm cho rằng Tổng số cacbonat (TC = cacbonat + bicacbonat) bằng với độ kiềm.

Hướng dẫn chung về giới hạn độ kiềm trên và dưới

Giới hạn trên được khuyến nghị đối với độ kiềm trong nước tưới thay đổi tùy thuộc vào khả năng đệm và thể tích của chất nền, thời gian thu hoạch và độ nhạy pH của cây trồng. Thể tích chất nền càng lớn thì càng có nhiều khả năng đệm, vì vậy độ pH sẽ thay đổi dần dần trong các vật chứa lớn hơn là các vật chứa nhỏ hoặc các tế bào riêng lẻ trong khay cắm.

Đo độ kiềm

Có một số tùy chọn khác nhau có sẵn để đo độ kiềm và chúng khác nhau về mức độ dễ dàng, độ chính xác và giá cả. Phương pháp đơn giản nhất là sử dụng bộ que thử độ kiềm và nhúng que thử vào một mẫu nước và đợi màu của que thử cho biết nồng độ kiềm gần đúng. Mặc dù đây là phương pháp đo độ kiềm rất nhanh và giá cả phải chăng, phép đo sẽ là nồng độ gần đúng

Kiểm tra thông số nước tưới
Kiểm tra thông số nước tưới

Độ cứng của nước

Thuật ngữ độ cứng đề cập đến nồng độ kết hợp của canxi và magiê trong nước và thường được biểu thị bằng tổng lượng canxi cacbonat (CaCO3) tính bằng mg/L hoặc ppm. Các cation khác như sắt, mangan, nhôm và kẽm cũng có thể góp phần tạo nên độ cứng. Độ cứng của nước dùng cho nhà kính và vườn ươm không được vượt quá 150 mg/L (CaCO3). Nồng độ canxi và magie cao (“nước cứng”) trong nước thường sẽ đi kèm với nồng độ bicacbonat và cacbonat cao tương tự.

Yếu tố vĩ mô

Các nguyên tố đa lượng nitơ (N), phốt pho (P), kali (K), canxi (Ca), magiê (Mg) và lưu huỳnh (S) rất cần thiết cho sự phát triển của cây trồng. Ở mức độ vừa phải, những yếu tố này không gây ra vấn đề sản xuất. Nồng độ nitơ, phốt pho và kali nên được đánh giá như một chỉ số về khả năng nhiễm bẩn và các nguồn thay thế của các chất dinh dưỡng này trong nước tưới. Ví dụ, nồng độ nitơ hoặc kali lớn hơn 10 ppm (mg/L), hoặc nồng độ phốt pho lớn hơn 1 ppm (mg/L) trong nước ngầm cho thấy nước đã bị nhiễm phân bón hoặc chất dinh dưỡng từ các nguồn khác, chẳng hạn như hệ thống tự hoại, hoặc từ các nguồn hữu cơ như phân chuồng.

Yếu tố vi mô

Nước tưới có thể chứa một lượng nhỏ nhôm (Al), boron (B), đồng (Cu), florua (Fl), sắt (Fe), mangan (Mn), molypden (Mo) và kẽm (Zn). Ngoại trừ Al và Fl, những nguyên tố này rất cần thiết cho sự phát triển của cây trồng và được yêu cầu với số lượng nhỏ. Nhôm trong nước tưới hiếm khi được tìm thấy ở nồng độ đủ cao để dẫn đến độc tính và không phải là vấn đề quan trọng với người nông dân.

Xử lý nước cho tổng chất rắn hòa tan

Tổng chất rắn hòa tan (TDS) là phép đo nhiều loại hợp chất như khoáng chất, muối và hợp chất hữu cơ được hòa tan vào nước do tiếp xúc với đá và các bề mặt khác. Các thành phần chính thường là các cation canxi, magie, natri và kali và các anion cacbonat, bicacbonat, clorua, sunfat và đặc biệt trong nước ngầm là nitrat (từ sử dụng trong nông nghiệp). Tổng chất rắn hòa tan, các muối hòa tan được đo cùng nhau bằng ECw và riêng lẻ bằng ppm của nguyên tố, có thể được loại bỏ bằng một số hệ thống lọc nước—thẩm thấu ngược và khử ion hóa. 

Kiểm soát muối hòa tan

Một giải pháp thay thế cho thẩm thấu và khử ion là cần thiết để duy trì mức độ dinh dưỡng tối ưu trong môi trường trồng trọt để tối đa hóa sự phát triển của cây trồng trong nhà kính. Nồng độ muối hòa tan quá cao có thể làm hỏng rễ, hạn chế nghiêm trọng sự phát triển của cây, gây ra những tổn thương không mong muốn trên lá (cháy lá) và có thể làm chết cây. Quản lý muối hòa tan liên quan đến một cách tiếp cận thích hợp để sản xuất. Phần lọc là phương pháp hiệu quả nhất trong việc kiểm soát sự tích tụ muối, nhưng cũng có thể sử dụng các phương pháp khác để kiểm soát và duy trì mức muối hòa tan.

Phần lọc

Giải pháp cổ điển để quản lý độ mặn trong nhà kính là thông qua quá trình lọc (rửa) muối tích tụ bên dưới vùng rễ. Điều này thường được thực hiện bằng cách thỉnh thoảng tưới quá mức để hòa tan, pha loãng và di chuyển muối. Tỷ lệ lọc (LF) là tỷ lệ phần trăm nước được sử dụng (10 đến 20%) phải rời khỏi vùng rễ hoặc thùng chứa để đạt được mức độ lọc mong muốn.

Đất thoát nước tốt giúp kiểm soát nồng độ muối hòa tan. Giá thể trồng trọt phải chứa một số lượng đáng kể các lỗ rỗng lớn để tạo điều kiện thoát nước tốt. Các vật liệu như rêu than bùn, đá trân châu, vermiculite, cát và sỏi mịn cung cấp nhiều không gian lỗ rỗng hơn.

Cải thiện chất nền

Trong một số loại đất nhà kính, có thể cải thiện một số chất nền bằng cách thêm vôi sống vào đất.

Phương pháp tưới

Các phương pháp tưới khác nhau cung cấp lượng nước rửa trôi khác nhau. Quá trình rửa trôi ngăn cản lượng muối hòa tan dư thừa tích tụ trong chất nền của rễ. Các tác động tiêu cực của EC cao rõ rệt hơn đối với cây trồng

Bón phân

Tránh sử dụng phân bón khô hoặc dung dịch dinh dưỡng đậm đặc cho chất trồng khô và tránh phân bón gây áp lực muối cao đối với một lượng chất dinh dưỡng nhất định (chỉ số muối cao). Phân bón hòa tan trong nước khác nhau về mức độ ảnh hưởng của chúng đến mức độ muối hòa tan trong môi trường. Xem xét chỉ số muối của phân bón khi lựa chọn sản phẩm phân bón.

Khả năng chống chịu của cây trồng

Có lẽ phương pháp hiệu quả nhất để quản lý muối hòa tan là tránh trồng các loại cây nhạy cảm với sự nhiễm mặn. Mỗi loài thực vật có một phản ứng riêng biệt đối với sự tích tụ muối và người nông dân thường có thể chọn những loài có khả năng chịu đựng tốt.

Thẩm thấu ngược

Thẩm thấu ngược (RO), hay thường được gọi là lọc màng, loại bỏ gần như toàn bộ độ kiềm và tạp chất khỏi nước và có thể khiến hầu hết mọi nguồn nước đều có thể sử dụng được cho sản xuất trong nhà kính. Tuy nhiên, việc lắp đặt và vận hành các hệ thống này rất tốn kém nên việc xác định một nguồn nước thay thế luôn được khuyến nghị nếu việc xử lý nước khắc nghiệt như vậy là cần thiết. Bộ lọc đủ mịn để loại bỏ các ion như natri, clorua, bicacbonat, bo và sắt trong nước. Hệ thống hoạt động bằng cơ chế thẩm thấu, đó là sự cho dung môi (nước) đi qua màng bán thấm ngăn cách hai dung dịch có nồng độ muối khác nhau.

Giai đoạn tiền xử lý

Giai đoạn tiền xử lý là một phần cực kỳ quan trọng của hệ thống. Nếu có tảo hoặc mầm bệnh, nước sẽ được xử lý bằng một trong nhiều phương pháp như bức xạ tia cực tím, clo hoặc axit peroxyacetic như sẽ thảo luận sau trong chương này trong phần Khử trùng nước tưới trong nhà kính. Tiền xử lý thường bao gồm lọc trước các hạt vật chất như cát, bùn, đất sét và kết tủa oxit sắt (sắt). Sử dụng các bộ lọc 100 đến 400 micron.

Khử ion

Khử ion đòi hỏi phải loại bỏ các chất hòa tan tích điện (ion hóa) bằng cách liên kết chúng với các vị trí tích điện dương hoặc âm khi nước đi qua hệ thống lọc. Quá trình này được gọi là trao đổi ion và có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để tạo ra nước khử ion có chất lượng khác nhau. Ví dụ về các cation là: natri (Na+), canxi (Ca2+), magie (Mg2+), sắt (Fe2+) và kali (K+). Ví dụ về các anion là: clorua (Cl-), sunfat (SO42-), bicacbonat (HCO3-) và florua (F-).

Trung hòa độ kiềm/điều chỉnh pH

Vấn đề chính phát sinh từ nước có độ kiềm cao là ảnh hưởng đến độ pH. Nước kiềm có thể làm tăng độ pH của chất nền dẫn đến thiếu hụt chất dinh dưỡng nếu độ pH của chất nền được nâng lên trên phạm vi lý tưởng cho khả năng hòa tan chất dinh dưỡng. Các hành động quản lý và quy trình khắc phục được thực hiện để tối ưu hóa khả năng sinh sản và chống lại các tác động bất lợi khác của độ kiềm/pH cao sẽ khác nhau tùy theo độ kiềm của nước và loại cây trồng bạn đang trồng.

Giảm đá vôi được thêm vào phương tiện bầu

Nếu nước có độ kiềm vừa phải, lượng đá vôi được thêm vào giá thể có thể giảm đi. Hầu hết các chất nền nhà kính đều yêu cầu đá vôi trong công thức của chúng. Do đó, có thể sử dụng ít đá vôi hơn để bù lại lượng vôi sẽ được sử dụng trong nước kiềm.

Lựa chọn phân bón

Lựa chọn phân bón là một phương pháp để quản lý độ pH trong hệ thống sản xuất không sử dụng đất khi sử dụng nước tưới có độ kiềm vừa phải. Mỗi loại phân bón đều được dán nhãn với giá trị tính axit hoặc tính bazơ tiềm tàng tính bằng CCE (tương đương canxi cacbonat; lbs/tấn). Công thức phân bón có tiềm năng axit cao có thể cân bằng tác động của độ kiềm cao vừa phải, giữ cho độ pH của chất nền trong phạm vi chấp nhận được. Điều này đặc biệt đúng trong các hệ thống mà phân bón hòa tan được bổ sung thường xuyên trong quá trình tưới.

Xử lý axit

Trong các nhà kính thương mại, phương pháp phổ biến nhất để giảm thiểu “hiệu ứng vôi hóa” của độ kiềm cao là thêm một loại axit vô cơ mạnh (thường là axit sunfuric hoặc axit photphoric) trực tiếp vào nước tưới. Khi độ pH của nước giảm, một số độ kiềm được trung hòa. Việc phun axit có thể sẽ cần thiết nếu độ kiềm quá cao (3,0 meq/L hoặc cao hơn) để làm cho nước thích hợp cho việc tưới tiêu trong các hệ thống sản xuất không sử dụng đất.

Các axit thường có sẵn cho người nông dân bao gồm photphoric, sulfuric, nitric và citric. Đối với mức độ kiềm vừa phải, nhiều người trồng lựa chọn axit photphoric, vì nó bổ sung phốt pho vào dung dịch phân bón, đồng thời an toàn và rẻ tiền hơn so với hầu hết các loại axit khác. Axit photphoric phù hợp khi chỉ cần trung hòa 1 hoặc 2 meq/L độ kiềm. Lượng axit cần thiết để trung hòa độ kiềm cao hơn cung cấp phốt pho ở nồng độ cao hơn nhiều so với mức cần thiết của cây trồng. Đối với độ kiềm cực cao, axit sunfuric (hoặc pin) có khả năng trung hòa cao nhất nhưng nguy hiểm hơn khi xử lý.

Tưới nước trong nhà kính
Tưới nước trong nhà kính

Pha loãng trước axit/bazơ đậm đặc

Pha loãng sơ bộ giúp trộn vì trọng lượng riêng giảm và axit ít đậm đặc và nhớt hơn. Pha loãng trước có thể cải thiện sự phân bố axit dọc theo dòng nước đang chuyển động, vì sẽ có thêm nhiều đợt axit loãng hơn để đạt được hiệu quả nhất định. Các xung thường xuyên hơn này sẽ được trải đều hơn xuống đường tưới so với các xung axit cường độ cao không thường xuyên. Nhìn chung, bạn có thể kiểm soát độ pH mượt mà và tốt hơn bằng cách sử dụng nhiều xung dung dịch gốc axit tương đối yếu hơn thay vì ít xung axit siêu đậm đặc hơn.

Thời gian phản ứng

Một vấn đề phổ biến khi điều chỉnh pH là thời gian phản ứng của quá trình. Thông thường, có thể mất vài phút hoặc thậm chí vài giờ sau khi thêm chất điều chỉnh độ pH để độ pH ổn định hoàn toàn. Điều này là do các chất axit hoặc bazơ được thêm vào cần có thời gian để phản ứng hoàn toàn và đi đến trạng thái cân bằng với các thành phần khác trong nước.

Chất dinh dưỡng từ axit

Cùng với việc cung cấp khả năng điều chỉnh độ pH, mỗi axit cung cấp một chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng (phốt pho, lưu huỳnh và nitơ). Chất dinh dưỡng được cung cấp có thể có lợi cho sự phát triển của cây trồng (nếu không được cung cấp quá mức), nhưng nó cũng có thể phản ứng với muối phân bón trong dung dịch gốc đậm đặc hoặc với thuốc trừ sâu nếu được pha vào dung dịch phun. Những người trồng trọt axit hóa nước của họ nên điều chỉnh chương trình bón phân của họ đối với chất dinh dưỡng do axit cung cấp. Nitơ nitrat được cung cấp bởi axit nitric, phốt pho phốt phát bởi axit photphoric và lưu huỳnh sunfat bởi axit sunfuric.

 

Xử lý nước có chứa chất rắn lơ lửng

Chất rắn lơ lửng (SS) trong nước tưới là các hạt vô cơ như đất sét, phù sa và các thành phần đất khác, cũng như các chất hữu cơ như nguyên liệu thực vật, tảo và vi khuẩn. Các chất rắn lơ lửng cần được loại bỏ khỏi nước tưới để tránh tắc nghẽn đường ống, van, vòi phun và máy bơm. Chất rắn lơ lửng là một vấn đề nghiêm trọng đối với nước bề mặt. Nước ngầm, mặc dù thường sạch, có thể chứa các hạt cát mịn hoặc sắt lơ lửng. Bộ lọc nước tưới hoạt động tối ưu với nhiều nguồn nước loại bỏ cặn lơ lửng hiệu quả. 

Máy tách cát ly tâm

Máy tách cát ly tâm về lý thuyết, thực chất không phải là bộ lọc mà được sử dụng như thiết bị tiền xử lý cho các loại bộ lọc khác. Máy tách cát ly tâm loại bỏ các hạt cát, phù sa hoặc các hạt cát mài mòn lớn hơn có thể dẫn đến sự xuống cấp sớm của các thành phần hệ thống tưới tiêu. Những chất gây ô nhiễm này có thể làm giảm hiệu quả của thiết bị hệ thống tưới bằng cách cắm và làm tắc các van và máy bơm. Bộ tách cát có hiệu quả trong việc loại bỏ tới gần 98 phần trăm kích thước hạt quá lớn để vừa với bộ lọc 200 mắt lưới (0,074 mm) tương đương. Thiết bị không loại bỏ vật liệu hữu cơ.

Xả hệ thống

Những bộ lọc này ít cần bảo trì, nhưng chúng yêu cầu xả nước thường xuyên. Lượng cặn trong nước đầu vào, lượng nước sử dụng và dung tích của khoang thu gom ở đáy bộ lọc sẽ quyết định tần suất và thời gian van xả nước cần hoạt động. Có thể xả cặn bằng tay hoặc tự động.

Bộ lọc thô

Bộ lọc thô đã được sử dụng rộng rãi trong việc lọc nước trong các hoạt động nhà kính. Bộ lọc phương tiện thường được sử dụng để loại bỏ các vật liệu hữu cơ (chất nhờn của vi khuẩn và tảo), phù sa mịn hoặc các vật liệu hữu cơ hoặc vô cơ mịn khác khỏi ao và nước mặt. Các bộ lọc này bẫy các chất gây ô nhiễm trong nước tưới trong cột cát sâu, thủy tinh tái chế, sợi khoáng hoặc thủy tinh đóng gói và/hoặc các chất nền dày đặc khác. Đáng chú ý nhất trong số này là cát thông thường có kích thước được chọn đặt trong bể điều áp để lọc chất gây ô nhiễm khi nước chảy qua phương tiện lọc. Thân chính của bể chứa cát, là thành phần lọc tích cực. Cát được đặt trên một lớp sỏi mỏng, lớp này ngăn cách nó với màn hình đầu ra.

Định cỡ bộ lọc phương tiện cát

Phải tuân thủ các khuyến nghị của nhà sản xuất về định cỡ hạt cát và hệ số đồng nhất để cung cấp khả năng lọc cần thiết và đảm bảo tính toàn vẹn của phần cứng hệ thống. Kích thước phù hợp của bộ lọc phương tiện cát là rất quan trọng đối với hiệu suất hệ thống. Công suất trong bộ lọc phương tiện cát có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất của hệ thống và trên thực tế, có thể là sự khác biệt giữa thành công và thất bại của hệ thống

Xả hệ thống

Khi phương tiện chứa đầy vật chất hạt, áp suất giảm trên bể phương tiện tăng lên, buộc nước chảy qua các kênh nhỏ hơn và ít hơn. Điều này cuối cùng sẽ vô hiệu hóa bộ lọc phương tiện, yêu cầu nước sạch từ một bể phải được chuyển ngược lại qua bể bẩn để làm sạch phương tiện. Thông thường, các bộ lọc phương tiện phải được xả ngược khi áp suất giảm qua bộ lọc đạt khoảng 10 psi hoặc theo khuyến nghị của nhà sản xuất. Trong quá trình rửa ngược, hướng của nước đảo ngược qua lớp cát. Khi điều này diễn ra, lớp cát bẩn nâng lên, cho phép các hạt riêng lẻ tách ra khỏi nhau. Bởi vì các chất gây ô nhiễm hữu cơ nhẹ hơn so với phương tiện cát thực tế, chúng nổi lên trên cùng của bể phương tiện, nơi chúng được xả qua đường ống xả ngược.

Tấm lọc

Các sản phẩm bộ lọc màn hình phổ biến vì chúng rẻ tiền, dễ cài đặt và chiếm ít không gian hơn so với bộ lọc phương tiện cát. Chúng có nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau, mặc dù hầu hết là loại hình trụ nằm ngang. Bộ lọc màn hình được sử dụng thường xuyên nhất để loại bỏ các chất gây ô nhiễm vô cơ. Bộ lọc màn hình được khuyến nghị để loại bỏ cát rất mịn hoặc các mảnh vụn vô cơ có kích thước lớn hơn.

Kích thước bộ lọc màn hình

Kích thước của bộ lọc màn hình dựa trên kích thước hạt tối đa mà máy bơm cho phép, chất lượng nước tưới, lưu lượng giữa các lần làm sạch cần thiết và mức giảm áp suất cho phép trên bộ lọc. Thông tin về kích thước hạt tối đa cho phép phải có sẵn từ nhà sản xuất máy bơm. Nếu không, một nguyên tắc nhỏ là loại bỏ bất kỳ hạt nào lớn hơn 1/10 đường kính của lỗ nhỏ nhất trong máy bơm.

Xả hệ thống

Thường xuyên vệ sinh bộ lọc màn hình là rất quan trọng. Nếu chúng bị bỏ qua, một phần của bộ phận sàng lọc sẽ bị vón cục và bị tắc, đẩy nước qua một khu vực nhỏ hơn. Điều này có thể đẩy các mảnh vụn xuyên qua phần tử sàng lọc và trong các điều kiện khắc nghiệt sẽ làm vỡ nó. Đồng hồ đo áp suất ngược dòng và xuôi dòng có thể giúp đánh giá khi nào cần làm sạch bộ lọc. Áp suất giảm từ 1 đến 3 psi là bình thường đối với bộ lọc màn hình.

Bộ lọc đĩa

Bộ lọc đĩa là sự kết hợp giữa bộ lọc màn hình và bộ lọc phương tiện, với nhiều ưu điểm của cả hai. Bộ lọc đĩa rất tốt trong việc loại bỏ cả các hạt, như một lượng nhỏ cát và chất hữu cơ. Bộ lọc đĩa tốt hơn bộ lọc màn hình để giữ lại tảo. Phần tử sàng lọc của bộ lọc đĩa bao gồm các chồng đĩa mỏng, hình bánh rán, có rãnh, tạo thành một hộp lọc ba chiều. Ngăn xếp được bao bọc trong vỏ chống ăn mòn và áp suất. Mỗi đĩa riêng lẻ chứa các rãnh, được đúc vào bề mặt của nó.

Hầu hết các bộ lọc đĩa phải được làm sạch thủ công bằng cách tách các đĩa và đảo ngược dòng nước chảy qua chúng, nhưng có sẵn các loại xả ngược tự động. Bộ lọc đĩa yêu cầu lượng nước xả ngược ít hơn so với bộ lọc phương tiện cát

hệ thống lọc
hệ thống lọc

Xem thêm: Bộ lọc đĩa

Khử trùng nước tưới trong nhà kính

Một số nguồn nước tưới tiêu cần phải trải qua quá trình khử trùng trước khi sử dụng trong nhà kính. Nước máy sạch và thường không cần xử lý. Nước giếng thường chỉ cần lọc để loại bỏ chất rắn lơ lửng hoặc muối cụ thể như sắt. Tuy nhiên, nước tưới từ các hệ thống thủy lợi khép kín, ao hồ và đường thủy có thể là nguồn chứa nhiều mầm bệnh thực vật qua đường nước. 

Để ngăn chặn sự lây lan của mầm bệnh, điều cần thiết là ngăn chặn chúng tiếp cận những cây khỏe mạnh bằng các phương pháp khử trùng nước khác nhau. Các phương pháp khử trùng nước được sử dụng trong nhà kính bao gồm lọc, khử trùng bằng clo, clo đioxit, , ion hóa đồng, ozon hóa, chiếu tia cực tím (UV) hoặc xử lý nhiệt bằng cách thanh trùng. 

Nói chung, không có phương pháp hay công nghệ duy nhất nào luôn là giải pháp “tốt nhất” để loại bỏ mầm bệnh khỏi nước tưới. Sử dụng hai hoặc nhiều phương pháp mang lại cơ hội tốt nhất để ngăn chặn sự lưu thông của mầm bệnh thực vật thông qua nước tưới. Một số phương án xử lý cung cấp khả năng kiểm soát dư lượng trong toàn bộ hệ thống tưới tiêu. 

Tiền lọc

Tiền xử lý hoặc tiền lọc nước tưới liên quan đến việc sử dụng các loại bộ lọc khác nhau để loại bỏ các hạt vật chất hữu cơ và vô cơ (mảnh vụn, trầm tích, hạt đất, tảo, v.v.) khỏi nước trước khi xử lý mầm bệnh. Quá trình lọc sơ bộ rất quan trọng vì 2 lý do. 

  • Thứ nhất, các hạt vật chất lớn hơn có khả năng làm tắc nghẽn hệ thống tưới tiêu (ví dụ: máy bơm). 
  • Thứ hai, hiệu quả của nhiều phương pháp xử lý mầm bệnh (ví dụ: tất cả các phương pháp xử lý hóa học sử dụng chất oxy hóa, tia cực tím, v.v.) bị giảm đáng kể khi có mặt chất hữu cơ dạng hạt.

 Có rất nhiều kỹ thuật tiền lọc sẵn có và lựa chọn các loại bộ lọc. Các loại bộ lọc được sử dụng bao gồm: bộ lọc màn hình, bộ lọc đĩa, bộ lọc ly tâm (tách xoáy) và bộ lọc phương tiện.

Clo hóa

Clo hóa là một công nghệ được sử dụng rộng rãi để khử trùng nước trong nhà kính. Clo rất hiệu quả để loại bỏ hầu hết tất cả các vi sinh vật gây bệnh và thích hợp làm chất khử trùng sơ cấp và thứ cấp. Clo tiêu diệt hoặc ngăn vi khuẩn nhân lên bằng cách làm hỏng màng của chúng.

 Clo được thêm vào nước dưới dạng khí clo, natri hypoclorit (chất lỏng) hoặc canxi hypoclorit (dạng bột hoặc hạt). Clo được thêm vào bằng các phương pháp này sẽ phản ứng với nước bằng cách thủy phân để tạo thành axit hypochlorous—thành phần hoạt chất chính của quá trình khử trùng bằng clo. Axit hypochlorous hoạt động bằng cách oxy hóa và chuyển các ion clorua (clo hóa).

Khí clo

Khí clo được bơm vào từ bình khí. Hòa tan khí clo trong nước tạo ra axit hypochlorous, hydro và clorua. Khí clo chứa 100% clo có sẵn vì nó làm giảm độ pH của nước xuống mức dẫn đến hầu hết là clo và axit hypochlorous. Nó thường được tiêm ở 25 đến 200 ppm. Phải cung cấp đủ thời gian trộn và tiếp xúc sau khi tiêm để đảm bảo khử trùng hoàn toàn mầm bệnh.

Natri hypochlorite

Natri hypochlorite (thuốc tẩy dạng lỏng) thường có sẵn tới 15 phần trăm. Thuốc tẩy gia dụng là natri hypochlorite với 5,25 % Clo có sẵn. Sử dụng thuốc tẩy dạng lỏng thường được ưu tiên hơn vì chúng dễ dàng sử dụng.

Canxi hypochlorite

Canxi hypochlorite là một dạng clo rắn có sẵn ở dạng hạt hoặc viên chứa khoảng 65 đến 70% Clo. Nó là một chất khử trùng hiệu quả giúp loại bỏ vi khuẩn, tảo, chất nhờn, nấm và các vi sinh vật khác. 

Các yếu tố cần xem xét với clo hóa

Mối quan hệ giữa Clo và pH. Hóa chất nước cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của một số phương pháp điều trị khử trùng. Ví dụ, hoạt tính khử trùng của clo phụ thuộc rất nhiều vào độ pH. Đối với nước được bổ sung bằng canxi hypochlorite hoặc natri hypochlorite, khoảng pH tối ưu là 6,0 đến 7,5. Ở độ pH cao hơn, cần nhiều clo hơn để có kết quả tương tự hoặc nước phải được axit hóa để việc phun clo có hiệu quả. Điều quan trọng cần lưu ý là cả Natri hypochlorite và Canxi hypochlorite sẽ làm cho độ pH của nước tăng lên và làm như vậy có thể làm giảm hiệu quả của quá trình khử trùng bằng clo. .

Nồng độ Clo mong muốn. Nên sử dụng việc phun clo liên tục nếu nước tưới có hàm lượng tảo và vi khuẩn cao. Thời gian tiếp xúc giữa nước khử trùng bằng clo và nước ô nhiễm là rất quan trọng để việc xử lý có hiệu quả. Thời gian phun clo ít nhất là 2 giờ.

Nhu cầu Clo. Clo tự do phản ứng với gần như tất cả các chất hữu cơ, dù là rêu than bùn hay sinh vật. Khả năng oxy hóa (tính chất khử trùng) của clo tự do giảm dần khi nó phản ứng với chất hữu cơ. Do đó, nồng độ clo tự do phải được bơm vào hệ thống nước tưới phải được tăng lên tương ứng với mức tăng của chất hữu cơ, bất kể đó là vật chất vô cơ, tảo, màng sinh học, vi khuẩn, sắt hay vi sinh vật tự do. Khó khăn trong việc khử trùng bằng clo hiệu quả là lượng clo cần thiết phụ thuộc vào các tạp chất, chủ yếu là chất hữu cơ, trong nước.

Chlorine dioxide

Chlorine dioxide (ClO2) đã được sử dụng thành công để xử lý nước trong nhà kính. Chlorine dioxide là một vật liệu rất hiệu quả để loại bỏ màng sinh học trong đường ống như một phương pháp xử lý sốc, ít nhạy cảm với độ pH hơn so với clo và cũng có thể được áp dụng liên tục. Mặc dù là hợp chất của clo, nhưng clo dioxit KHÔNG hoạt động bằng cách khử trùng bằng clo. Nó hòa tan dễ dàng trong nước và không phản ứng để tạo thành axit hypochlorous và, không giống như axit hypochlorous, phương thức hoạt động của clo dioxide chỉ là do quá trình oxy hóa. Điều này làm cho nó ít phản ứng hơn với các chất không phải mục tiêu trong nước như ion amoni và nó không tạo thành hydrocacbon clo hóa có vấn đề khi phản ứng với chất hữu cơ.

Ozon hóa

Ozone(O3)  là chất oxy hóa mạnh có tác dụng tiêu diệt nấm, vi khuẩn gây bệnh và vi rút gây bệnh trong nước. Nó là một chất khử trùng mạnh hơn nhiều so với clo và các chất thay thế dựa trên hóa chất khác. Sau khi được hòa tan trong nước, nó sẽ tiêu diệt mầm bệnh trước khi trở lại thành oxy. Quá trình ozon hóa triển khai khí ozon không ổn định (O3), được tạo ra tại chỗ và sủi bọt qua nước, nơi nó phản ứng nhanh chóng với các vi sinh vật và chất hữu cơ. Không giống như clo, ozone không độc hại và không tạo ra sản phẩm phụ khử trùng (DBP’s).

Tia cực tím (UV)

Tia cực tím (UV) là một lựa chọn hiệu quả cao để kiểm soát mầm bệnh và tảo trong hệ thống tưới nhà kính. Phương pháp điều trị có hiệu quả vì tia UV xuyên qua thành tế bào của sinh vật và phá vỡ vật liệu di truyền của tế bào, khiến cho quá trình sinh sản không thể thực hiện được. Nó có hiệu quả chống lại tảo, nấm, vi khuẩn và vi rút. Nước được xử lý trong các hệ thống UV bằng cách cho nước đi qua buồng xử lý bằng thép có chứa đèn UV được bọc trong ống thạch anh. Các sinh vật bị tiêu diệt khi chúng đi qua chùm ánh sáng nhưng không đi sâu hơn vào dòng nước. Nói chung, UV lắp đặt đơn giản và cần ít sự giám sát, bảo trì hoặc không gian. Cải thiện an toàn, thời gian dịch vụ tối thiểu, chi phí vận hành và bảo trì thấp.

Thanh trùng nhiệt

Làm nóng sơ bộ (hoặc thanh trùng) nước trước khi sử dụng là một phương pháp rất hiệu quả và đáng tin cậy để xử lý nước tưới tiêu đối với mầm bệnh trong nhà kính. Phương pháp này liên quan đến việc đun nóng nước tưới đến một nhiệt độ cụ thể để vô hiệu hóa vi sinh vật. Thanh trùng không yêu cầu nước phải được lọc trước và không có bất kỳ tác động còn lại nào đối với cây trồng. Tuy nhiên, quá trình thanh trùng sử dụng một lượng lớn năng lượng để làm nóng nước. Điều này trở nên tốn kém đối với các cơ sở sản xuất sử dụng lượng nước lớn và do đó, phương pháp xử lý này được sử dụng tốt hơn cho lượng nước nhỏ hơn. Phương pháp xử lý nhiệt phổ biến nhất đòi hỏi phải đưa nước tưới qua hai bộ trao đổi nhiệt.

Cấp nước cho nhà kính

Việc cung cấp đủ nước chất lượng cao là vô cùng quan trọng để sản xuất các hoạt động của nhà kính. Cần cung cấp đủ nước để tưới cây trồng, sử dụng thuốc trừ sâu, làm mát bay hơi (nếu có), chuẩn bị giá thể trồng trọt và dọn dẹp. Các nguồn nước chính cho các hoạt động của nhà kính là nước ngầm từ giếng, nước mặt, ao thoát nước, mưa và nước đô thị.

Yêu cầu về nước trong nhà kính

Yêu cầu về nước trong nhà kính phụ thuộc vào loại cây trồng, điều kiện thời tiết, loại cấu trúc trồng trọt, loại hệ thống tưới tiêu, giá thể trồng trọt, loại cây trồng cùng các yếu tố khác. Do đó, rất khó để ước tính lượng nước mà một nhà kính sẽ cần. Hãy nhớ rằng nhà kính cần nước cho các yêu cầu vận hành khác ngoài việc tưới tiêu cho cây trồng. Ví dụ như trộn giá thể trồng trọt; làm sạch thùng chứa, cấu trúc và thiết bị; và làm mát bay hơi. Nước được sử dụng để làm mát bay hơi trong những tháng mùa hè có thể làm tăng đáng kể tổng lượng nước sử

Nguồn nước cho nhà kính

Có bốn nguồn nước chính có sẵn để sản xuất nhà kính: nước ngầm, nước đô thị, nước bề mặt, nước thải tái chế và nước mưa từ dòng chảy. Tất cả các nguồn nước này có thể có vấn đề về chất lượng cần được quản lý trước khi chúng có thể được sử dụng cho sản xuất của nhà máy.

Nước ngầm

Giếng khoan là nguồn nước phổ biến cho nhiều hoạt động nhà kính. Nước ngầm có thể tương đối không chứa các hạt hoặc có thể chứa một lượng lớn cát và/hoặc phù sa có thể đi vào nguồn cung cấp nước tưới trong nhà kính khi nước được bơm từ tầng chứa nước.

Nước máy

Nước máy bao gồm nước được cung cấp bởi thành phố, quận hoặc đô thị. Chi phí và chất lượng thường cao vì phần lớn nước dùng cho sinh hoạt và nước uống đã qua xử lý. Đối với các hoạt động nhà kính nhỏ của các loại cây trồng có giá trị cao, sử dụng nước đô thị có thể ít hơn chi phí lắp đặt và vận hành giếng nước ngầm.

Nước ờ bề mặt

Nước bề mặt bao gồm suối, sông, hồ và ao phụ thuộc vào dòng chảy từ vùng đất liền kề hoặc từ các mạch nước ngầm. Những điều này phụ thuộc vào tỷ lệ mưa thay đổi từ năm này sang năm khác. Nước mặt có thể bị ô nhiễm từ các nguồn như trầm tích, hóa chất và sự phát triển của thực vật. Mức độ hạt cao có thể làm giảm tuổi thọ của máy bơm và làm tắc nghẽn hệ thống tưới tiêu và có thể cần nhiều bộ lọc

Nước mưa và nước mưa Nước chảy tràn

Ở nhiều vùng của đất nước, các nhà sản xuất đã bắt đầu tái chế nước thải từ các cơ sở nhà kính của họ. Quá trình này có thể tiết kiệm tiền, đặc biệt là đối với các hoạt động lớn hơn, vì phân bón trong dòng chảy được tái sử dụng. Tuy nhiên, nước chảy tràn có thể chứa dư lượng thuốc trừ sâu và nitrat. Các vấn đề về độc tính thực vật có thể xảy ra khi nước tái chế có chứa thuốc trừ sâu có độ hòa tan trong nước từ trung bình đến cao hoặc một loại thuốc trừ sâu được sử dụng rộng rãi và nước tái chế được sử dụng cho các loại cây nhạy cảm với loại thuốc trừ sâu đó. 

(Nguồn tham khảo: https://www.greenhouse-management.com/)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *